Xe cháy toàn bộ sau chưa đầy một tháng mua bảo hiểm
Ngày 19/3/2019, ông Vũ Hữu M. ký hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới với Tổng công ty B. (Hà Nội) cho chiếc Hyundai Grand Starex, sản xuất năm 2008.
Theo hợp đồng, chiếc xe được xác định có giá trị 350 triệu đồng. Ông M. đã đóng hơn 7,5 triệu đồng phí bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm từ ngày 19/3/2019 đến ngày 18/3/2020.
Tuy nhiên, chưa đầy một tháng sau khi hợp đồng có hiệu lực, vào ngày 14/4/2019, một vụ cháy xảy ra tại xưởng sửa chữa ô tô của Công ty TNHH O., nơi chiếc xe của ông M. đang được sửa chữa.
Vụ cháy gây thiệt hại nhiều tài sản, trong đó chiếc Hyundai Grand Starex của ông M. bị cháy hoàn toàn, không thể sửa chữa, phục hồi. Kết luận định giá tài sản sau đó xác định giá trị chiếc xe là 350 triệu đồng.
Sau khi sự việc xảy ra, ông M. thông báo và làm thủ tục yêu cầu Tổng công ty B. bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm đã ký. Tuy nhiên, đến ngày 25/11/2020, doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản từ chối bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Theo Tổng công ty B., tổn thất của chiếc xe phát sinh khi xe đang được sửa chữa tại xưởng, thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm đã ký kết. Doanh nghiệp này cho rằng, quy tắc bảo hiểm loại trừ các trường hợp tổn thất phát sinh thêm do sửa chữa hoặc trong quá trình sửa chữa, bao gồm cả chạy thử.
Không đồng ý, ông M. nhiều lần yêu cầu giải quyết nhưng không đạt kết quả. Sau đó, ông khởi kiện, yêu cầu Tổng công ty B. bồi thường 350 triệu đồng tiền thiệt hại của chiếc xe và tiền lãi chậm trả. Tổng số tiền ông yêu cầu tại thời điểm bổ sung đơn khởi kiện (ngày 25/3/2024) là hơn 466 triệu đồng.
Hai cấp tòa yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bồi thường
Tại bản án sơ thẩm, TAND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M., buộc Tổng công ty B. thanh toán tổng cộng hơn 481 triệu đồng. Trong đó, 350 triệu đồng là tiền bảo hiểm đối với chiếc xe và hơn 131,4 triệu đồng là tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 11/9/2024.
Không đồng ý, Tổng công ty B. kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông M. Doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục cho rằng tổn thất xảy ra trong quá trình sửa chữa nên thuộc trường hợp loại trừ bảo hiểm.
Tại phiên phúc thẩm, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng bảo hiểm giữa ông M. và Tổng công ty B. được ký kết hợp pháp và phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Theo quy tắc bảo hiểm vật chất ô tô được trích dẫn trong hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất cho chủ xe do thiên tai, tai nạn bất ngờ, không lường trước được, trong đó có trường hợp hỏa hoạn, cháy nổ. Quy định này không phân biệt hoàn cảnh xảy ra hỏa hoạn, cháy nổ và không quy định loại trừ cụ thể đối với trường hợp cháy nổ.
Đáng chú ý, kết luận giám định nguyên nhân cháy xác định đám cháy bắt nguồn từ tác động nhiệt lan từ khu vực đốt các vật dụng tại bãi đất trống phía sau, tiếp giáp với xưởng sửa chữa ô tô, sau đó cháy lan và phát triển thành đám cháy lớn.
Hội đồng xét xử nhận định, nguyên nhân cháy là khách quan, nằm ngoài sự kiểm soát của chủ xe, là sự cố bất ngờ và không thể lường trước. Các tài liệu trong hồ sơ cũng thể hiện chiếc xe bị tổn thất do cháy, tác động nhiệt từ bên ngoài, chứ không phải do việc sửa chữa hoặc trong quá trình sửa chữa.
Vì vậy, tòa phúc thẩm cho rằng, việc Tổng công ty B. áp dụng điều khoản loại trừ về tổn thất do sửa chữa để từ chối chi trả tiền bảo hiểm là không phù hợp.
Đối với khoản lãi chậm trả, tòa xác định sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, ông M. đã nộp hồ sơ và thực hiện nghĩa vụ yêu cầu bồi thường. Trong khi đó, Tổng công ty B. không chi trả tiền bảo hiểm đúng thời hạn. Do đó, yêu cầu tính lãi chậm trả với mức 10%/năm được xác định có căn cứ.
Dù cấp phúc thẩm nhận thấy có chênh lệch trong cách tính tiền lãi, xuất phát từ phương pháp tính ngày, tháng gây thiệt hại cho nguyên đơn gần 1,3 triệu đồng, nhưng ông M. không kháng cáo nên không cần sửa phần này của bản án sơ thẩm.
Từ đó, tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Tổng công ty B., đồng thời sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm.
Tòa phúc thẩm phán quyết, Tổng công ty B. phải thanh toán cho ông M. tổng cộng hơn 481 triệu đồng, gồm 350 triệu đồng tiền bảo hiểm và hơn 131 triệu đồng tiền lãi chậm thanh toán. Nếu chậm thi hành án, doanh nghiệp này còn phải tiếp tục trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
(Bài viết dựa trên Bản án số 131/2025/DS-PT ngày 4/3/2025 của TAND TP Hà Nội).


